Truyện Truyện cổ Andersen

Truyện cổ Andersen

Đọc truyện Cổ Andersen bản dịch nguyên tác hay nhất của tác giả người Đan Mạch Andersen Hans Christian. Trọn bộ truyện cổ tích Anđécxen với những tác phẩm nổi tiếng thế giới.

Con rùa khôn ngoan

Đang cập nhật tác giả
Truyện cổ Andersen

Con rùa khôn ngoan - Truyện cổ Andersen

Có một con rùa rất khôn ngoan, thông minh nó có thể nghĩ ra rất nhiều cách để thắng người khác và thắng cả sư tử được làm nữ chúa của muôn thú....

(Truyện cổ tích Châu Phi)

Ai cũng biết là rùa vô cùng khôn ngoan. Một hôm, một con rùa tập hợp muôn thú lại, báo tin:

– “Một cá cây nguy hiểm đang mọc lên trong rừng của chúng ta. Chúng ta phải trừ khử nó, nếu không nó sẽ trừ khử chúng ta!”

Rùa dẫn các con vật tới bìa rừng. Có cả một cánh đồng cây đay. Rùa nói:

– “Tứ cây đó đây!”.

Các con vật quan sát và nếm thử lá cây. Linh dương nhăn mặt:

– “Đắng quá. Tôi không thấy tại sao tôi phải ăn thứ cây này”.

Hồng hạc gật đầu:

– “Tôi cũng vậy. Tôi không thể dùng cây đay làm gì cả, vì tôi sống phần lớn thời gian dưới nước”

Cá chép không nói gì, chỉ phe phẩy vây, bỏ đi.

Vì vậy, cây đay được yên ổn, mặc tình mọc, Một hôm, nhiều người tới, nhổ đay, bện thành dây, làm dây cung. Kế đó họ lấy vỏ cậy cọ chuốt làm tên và đi săn chim. Tới bờ nước bắn tên vào một bầy hồng hạc. Bầy chim bay đi, nhưng một con bị thườn nặng nằm lại gần bờ. Rùa lại gần nó:

“Nếu anh nghe lời tôi khi tôi yêu cầu trừ bỏ cái cây trong rừng thì hôm nay có lẽ anh đã bay yên ổn trên không”.

Hồng hạc van nài:

– “Anh rùa, xin giúp tôi!”

– “Quá trễ rồi”.

Một người đi tới, bắt hồng hạc đem về. Kế đó, con người lấy một cây gậy và cột dây với một cái móc ở đầu dây. Họ ném lưỡi câu xuống nước và chỉ trong chốc lát, một con cá chép đã vùng vẫy ở đầu dây.

Rùa bơi tới bên nó:

– “Nếu anh nghe tôi, có lẽ hôm nay anh vẫn yên ổn bơi lội”.

– “Anh rùa ơi, giúp tôi với!” cá chép khẩn cầu.

– “Trễ quá rồi!” rùa trả lời.

Một người giật dây câu và kéo cá chép lên khỏi mặt nước. Kế đó người ta lấy dây thắt những cái thòng lọng, đặt trên một đường mòn. Linh dương mắc bẫy. Rùa tới nói:

– “Nếu anh nghe tôi, có lẽ hôm nay anh vẫn yên ổn chạy nhảy trong rừng!”.

– “Anh rùa ơi, giúp tôi với!” linh dương van nài.

Rùa gặm sợi dây và dải thoát linh dương. Từ ngày đó, chúng thành bạn của nhau. Tuy nhiên, rùa khôn ngoan bao nhiêu thì linh dương ngốc nghếch bấy nhiêu. Đúng là nó khâm phục bạn nó thông minh, nhưng trong thâm tâm nó tự bảo:

– “Sự thông minh của nó không ích lợi gì, vì nó chậm chạp. Nó không chay kịp ai mà cũng không thể chạy trốn kẻ thù”.

Một hôm, rùa thách linh dương:

– “Anh tưởng rằng tôi chậm chạp, nhưng tôi có thẻ chạy hơn anh khi tôi muốn”.

– “Tôi muốn thấy lắm!” linh dương cười.

– “Vậy thì nhìn kỹ đây. Chúng ta sẽ chạy tới đỉnh ngon đồi kia và ta sẽ tháy rõ ai tới trước:.

Ngay trước khi chạy, rùa cắn đuôi linh dương và bám lủng lẳng ở đó. Linh dương chạy tới đỉnh đồi rồi quay đầu lại để xem rùa vất vả ra sao. Rùa nhả đuôi linh dương ra và nói:

– “Tôi ở đấy. Tôi đã chờ anh lâu rồi”.

Linh dương nghĩ náy óc cũng không hiểu nổi rùa đã làm thế nào để tới trước nó. Lúc đó vua của muôn thú là sư tử mời tất cả thần dân dự một bữa tiệc huy hoàng. Khỉ, Voi cũng như Linh dương và Rùa đều tới dự. Bữa tiệc thật thinh soạn, thức ăn thừa mứa cho mọi con vật . Voi ăn chuối, cá sấu ăn cá. Rủi thay, rùa và linh dương đã ứa nước bọt đầy miệng khi chúng nhận ra mình đã quên mang dĩa theo. Sư tử đã yêu cầu muôn thú đem theo dĩa riêng, nhưng linh dương ngờ nghệch không nhớ tới. Rùa bận nghĩ ra những trò quái ác quên béng bộ đồ ăn. Thế là nó quay qua nói với Linh dương:

– “Anh mau chạy về nhà kiếm hai cái dĩa thì chúng ta mới có cái ăn!”

Nhưng linh dương không muốn đi:

– Tại sao lại là tôi? Anh chẳng chạy nhanh hơn tôi sao?

– “Đúng vậy, nhưng anh ở gần hơn”.

Linh dương đi tìm hai cái dĩa, nhưng trước khi đi, nó nói với rùa:

– “Đừng ăn hết đó!”

Rùa cũng đi tìm ngay một cái dĩa. Nó thấy một con hồng tước tí xíu bưng một cái dĩa to.

– “Anh dùng cái dĩa to như vậy để làm gì? Rùa hỏi. hai hạt đậu lớn cũng đầy bụng anh rồi”.

– Anh nói đúng – hồng tước đồng ý. Hơn nữa, tôi đã ăn xong.

– “Trong trường hợp đó, anh cho tôi mượn dĩa được không? Tôi để quên dĩa ở nhà.

Hồng tước không đợi năn nỉ: “nhưng chú ý đừng làm bể dĩa”.

Rùa lấy đầy dĩa và ăn gần vỡ bụng. Sau khi nó trả dĩa cho hồng tước thì linh dương đến. Nó tru tréo:

– “Anh không chừa gì cho tôi cả!”.

Quả là bữa tiệc thịnh soạn còn lại xương và vỏ chuối. Không phải một mình anh chịu đói – rùa phản bác. Trong khi chờ anh đem dĩa tới tôi không ăn một miếng. Anh đã nhởn nhơ, mất cả thì giờ!”

Rùa và linh dương đứng đó tiu ngỉu, hai cái dĩa trống trơ. Vua sư tử chợt nói:

– “Các ngươi đã ăn no bụng, đã có sức. Bây giờ ta sẽ cho các ngươi cơ hội phô diễn thế mạnh. Tất cả chúng ta sẽ chiến đấu với nhau. Kẻ nào thua sẽ làm tôi tớ cho kẻ thắng và mạnh nhất sẽ làm vua. Voi sẽ làm trọng tài cho cuộc đấu sức”.

Ý của sư tử rất hay. Dầu nó rất can đảm và mạnh mẽ, voi vẫn mạnh hơn nó. Tuy nhiên vì làm trọng tài, voi không

thể dự các cuộc đấu sức. Sư tử bắt đầu bằng cách gầm rống và nhảy xổ vào linh dương. Linh dương tránh và chạy vắt giò lên cổ. Thấy không bắt kịp, sư tử quay sang rùa ở bên cạnh. Nhưng không làm được gì trước các vỏ cứng của rùa. Nó bèn thử lật ngửa rùa lên, nhưng rùa cắn chân nó và rút đầu vào vỏ. Sư tử gầm thét vì đau đớn nhưng rùa cứ giữ chặt. Voi phải tuyên bố người thắng cuộc.

Sư tử tức giận và xấu hổ bỏ đi. Rùa trở thành nữ chúa của muôn thú. Khi linh dương  quay lại, rùa nói:

– “Tôi đã cứu mạng anh lần thứ hai. Nếu tôi không thành nữ chúa muôn thú, có lẽ nó đã đuổi kịp anh”.

Linh dương lồng nhiệt cám ơn. Rùa giữ quyền không lâu.Muôn thú quên nhanh là nó đã chiến thắng sư tửvà dần  dần sư tử phục hồi uy tín. Vả lại, nó cũng hết sức coi thường địa vị mới: nó quá thông minh nên không cần làm nữ chúa!

Nguồn: Sưu tầm

Sự tích chim Kền Kền

Đang cập nhật tác giả
Truyện cổ Andersen

Sự tích chim Kền Kền - Truyện cổ tích hay

Anh tàn tật dù nhà nghèo nhưng tốt bụng đã cho lũ chim những trái sung của mình. Nhờ đó được trả ơn bằng một điều ước và anh đã ước cho mình lành lặn trở lại. Tên nhà giàu tham lam nghe tin vì muốn cả gia đình mình trẻ khỏe lại đã bắt chước. Cuối cùng, cả gia đình hắn bị biến thành Kền Kền.


Trong xóm kia có hai người sống hai cảnh đời trái ngược. Một người giàu của để tận ngoài ngõ, chê cơm gạo đỏ không ăn, trong nhà thịt rượu ê hề. Lại có một người tàn tật, ít khi được bát cơm nóng. Rau dưa cũng không đủ no lòng. Lão nhà giàu phung phí tiền của, ra khỏi nhà là thuê người hầu người cáng khiêng. Chơi bời vô độ nên tóc còn đen, răng chưa rụng mà người lão đã gầy khô như cái xác chết. Anh nghèo mang tật từ lúc bé, chân tay co rúm, lưng còng, cổ queo, đi một bước vững cũng khó khăn. Quanh năm chỉ có hai mảnh quần áo rách.
Một năm kia, trời nắng kéo dài, rau cỏ cũng không mọc nổi. Những đám rau già quanh làng đã hết, anh tàn tật cố bò ra cây sung giữa đồng, nhặt quả ăn thay cơm. Đường từ nhà ra đây chẳng xa xôi gì. Người khỏe, hút chưa tàn điếu thuốc đã đi đến. Nhưng anh tàn tật phải bò suốt từ sáng sớm đến nửa buổi chiều. Cố lê được đến gốc cây sung anh đã mỏi mệt rã rời chẳng làm sao nhặt được quả rụng mà ăn. Đến chiều, khi mặt trời sắp lặn, có một cơn gió thổi qua rất mạnh. Cành sung oằn xuống, quả rụng chật đất. Anh tàn tật cố gượng dậy, lê đi nhặt lại thành đống định để ăn dần. Đêm đó anh ngủ bên gốc sung.

Sáng ngày hôm sau có một đàn chim từ hướng đông bay đến, đáp xuống ngọn cây sung. Đàn chim đi tìm quả sung chín, nhưng gió đã thổi rụng cả từ hôm qua, nên chúng ngơ ngác tìm kiếm một chốc rồi đáp xuống đất ! Trông thấy đám quả sung của anh tàn tật, đàn chim đứng nhìn nhưng không dám lại gần. Anh tàn tật nhặt sung vãi ra:
– Có đói vào đây mà ăn ……
Nghe anh nói, con chim có một cái khoang trắng trên cổ, óng ánh như bạc, nói lại rõ như tiếng người vậy :
– Chim không có công nhặt, sao người cho nhiều quả thế?
– Cây trời sinh, tôi không trồng, không tưới, công nhặt quả có đáng là bao, có đói thì cứ ăn.
Anh tàn tật lại bốc sung vãi thêm ra. Lũ chim không sợ nữa, xúm lại ăn. Ăn xong, con chim có khoang cổ lại hỏi :
– Người tàn tật mà tốt bụng. Quả ăn trừ cơm được mà không tiếc. Tôi đền lại người một điều ước, để trả ơn.
Đàn chim bay đi. Anh tàn tật ngồi một mình, ngẫm nghĩ về điều ước con chim đã cho. Lâu nay nghèo khổ, chưa được biết cái gì là sung sướng, nên cũng chẳng biết ước điều gì. Chợt thấy mấy người lính kiệu một viên quan đi qua. Thấy viên quan rất oai vệ, mà toán lính cũng bảnh bao. Anh tàn tật định ước được là một trong hai hạng người này. Nhưng khi bọn họ đến quãng đường lầy, thì toán lính đã bị thụt sâu, không đi nhanh được. Còn viên quan thì cau có, quát tháo, cầm gậy vụt đánh toán lính. Thấy vậy anh tàn tật tự bảo :
– Làm lính thì bị quan đánh, mà làm quan thì … mặt mũi cau có, đánh người thế kia, chẳng ai thương được.
Anh bỏ ý định ước làm quan, làm lính. Một chốc có mấy người thầy cúng đi qua. Người nào cũng quảy một xâu thịt, mấy chai rượu, tay chống gậy, đầu đội khăn rằn, khăn đỏ, buông xuống tận vai. Trông có vẻ an nhàn lắm. Anh tàn tật muốn ước làm thầy cúng. Bỗng cái cổ quẹo của anh đau nhói lên. Cái cổ này khi nhà còn tiền của, cha mẹ anh đã mời thầy cúng mãi mà không khỏi rốt cuộc vẫn tiền mất tật mang. Nhớ việc cũ, anh lại tự bảo:
– Thầy cúng là người dối trá. Người ốm mất tiền mà chẳng khỏi bệnh.
Một chốc anh lại thấy một lão nhà giàu đi đòi nợ về. Anh tàn tật toan ước làm một người giàu để được ăn no sung sướng. Nhưng lão nhà giàu đi chưa khuất đã thấy một toán người đến, tay dắt trâu, vai gánh thóc, mồ hôi nhễ nhãi, mặt mũi hốc hác, khổ sở. Anh bèn hỏi :
– Sau có trâu dắt mà không vui, có thóc gánh trên vai mà còn khóc?
Mấy người kia chỉ lão nhà giàu đang đi :
– Sắp đến mùa cày mà lão bắt mất trâu. Lúc có lúa, lão ấy đòi nợ ! Ông ấy là chủ nợ. Chúng tôi là con nợ. Cảnh khổ anh đã biết rất rõ.
Anh lắc đầu :
– Làm người giàu sẽ gây khổ cho người nghèo.
Đắn đó một lúc, anh tàn tật, nhìn lại mình. Thấy cổ quẹo, lưng còng, anh liền ước :
– Thôi, chim hãy cho tôi lành lặn, có đủ sức khỏe nhổ trốc gốc cây sung nàỵ
Lời ước vừa dứt, lưng anh đã thẳng ra, cổ hết quẹo, người to lớn lực lưỡng. Anh bước tới đến ghé vai vào cây sung, hai tay ôm choàng, nhổ thử. Cây sung bật cả gốc rễ. Anh cởi áo túm mớ quả sung còn lại, vác cả cây sung về trồng trước làng. Tên nhà giàu thấy anh tàn tật đã béo tốt đẹp trai liền đến hỏi :
– Mày làm sao chong được khỏe vậy ?
Anh tàn tật kể chuyện được sức khỏe cho tên nhà giàu nghe. Lão muốn vợ chồng con cái và mẹ nó được béo tốt như anh tàn tật, liền về dắt cả lũ đến với anh:
– Mày béo khỏe vậy là tốt lắm rồi. Mớ quả sung còn lại cho tao xin. Người nhà tao ai cũng gầy guộc quá. Tao muốn tao, mẹ tao, vợ con tao đều có sức khỏe như màỵ
Anh tàn tật không định để mớ quả sung lại làm gì, nhưng anh chưa kịp cho thì lũ kia đã xúm lại cướp mỗi đứa một vốc, chạy lẹ ra đồng. Chúng nó ngồi thù lù bên chỗ cây sung anh đã nhổ trốc gốc, để chờ chim đến. Đàn chim đến thật. Mẹ, vợ và con lão nhà giàu không hiểu đổi chác thế nào, nên cứ trố mắt nhìn. Còn tên nhà giàu thì đưa quả sung ra nhử chim, hắn nói:
– Cây sung bị thằng tàn tật nhổ mất rồi. Từ nay kiếm được một quả sung chẳng dễ gì ! Đây, những quả sung này ngon lắm, ngon gấp mười quả sung của thằng tàn tật kia! Chim có chịu đổi một trăm điều ước tao mới đổi.
Đàn chim đã đói, nhưng mỗi lần chỉ cho được một điều ước, nên không đổi được cho tên nhà giàu. Khi mặt trời gần lặn, đàn chim chắp cánh sắp bay. Biết không thể đổi được hơn, tên nhà giàu mới chịu đổi. Được điều ước nó cười hả hê, giục cả nhà đứng dậy rồi lớn tiếng:
– Cho cả nhà tao trẻ lại … này, khỏe này, béo này ……
Nhưng nói chưa hết câu, thì những cái mồm của lũ nó đã nhô ra nhọn hoắt, tay biến thành cánh, móng chân biến thành vuốt, lông mọc khắp người, hôi thối khét lẹt. Cả nhà nó hóa thành một đàn Kên Kên. Lũ Kênh Kênh bay dạt vào rừng. Giàu có, ăn uống sung sướng quen miệng, nay đã hóa thành Kên Kên, chúng vẫn giữ nguyên cốt cách như lúc còn làm người. Mỗi khi gặp con trâu, con bò chết là cả lũ bâu lại.

Nguồn: Truyện cổ tích Tổng hợp.

Sự tích phong bao lì xì

Đang cập nhật tác giả
Truyện cổ Andersen

Sự tích phong bao lì xì - Truyện cổ Andersen

Truyện kể về một cậu bé được ba mẹ cho 8 đồng xu để đùa nghịch, cậu bọc những đồng xu này vào tờ giấy đỏ, sau đó cậu đã ngủ thiếp đi. Khi con yêu quái đáng sợ "Sui" đến định hãm hại cậu thì đã bị luồng sáng bạc phát ra từ bao giấy đỏ làm hoảng sợ. Từ đó về sau người ta gọi tiền lì xì là "Tiên may mắn trong Năm Mới".

Theo truyền thuyết, có một con yêu quái đáng sợ tên là “Sui.” Hàng năm vào đêm giao thừa, nó sẽ đến chạm vào đầu trẻ em đang ngủ ba lần. Sợ quá, em bé sẽ khóc lớn và sau đó sẽ bị đau đầu, bị sốt, và nói nhảm. Khi những triệu chứng này biến mất, đứa trẻ sẽ trở nên ngu đần.

Vì sợ yêu quái Sui hãm hại trẻ nhỏ, cha mẹ chúng thường không tắt đèn và thức qua đêm giao thừa để xua đuổi yêu quái. Đây là nguồn gốc tập tục thức qua đêm giao thừa.

Có một nhà họ Quan nọ sinh sống tại thành phố Gia Hưng, tuổi đã cao mới sinh hạ được một cậu con trai nên rất cưng chiều.

Vào một đêmgiao thừa , sợ Sui đến hãm hại, họ cũng thức tỉnh cậu bé. Họ cho cậu ta 8 đồng xu để đùa nghịch. Cậu bé bọc nhữngđồng xu này vào tờ giấy đỏ, mở ra, rồi lại bọc lại, lặp đi lặp lại như thế đến khi chú bé mệt quá và ngủ thiếp đi mất, 8 đồng xu khi ấy đang được bọc bởi giấy đỏ và đặt ngay bên cạnh gối cậu ta. Lúc ấy đôi vợ chồng ngồi ngay bên cạnh để trông chừng.

Vào nửa đêm, một cơn gió lạnh thổi tung cánh cửa và làm tắt đèn. Đúng lúc quỷ Sui vươn tay đến đầu cậu bé, từ bao giấy đỏ tỏa ra một luồng sáng bạc làm cho yêu quái khiếp sợ và bỏ trốn.

Vào Tết năm đó, đôi vợ chồng đã kể cho hàng xóm láng giềng về câu chuyện hôm giao thừa. Từ đó về sau, họ bắt đầu bắt chước làm theo và trẻ em không còn bị quấy nhiễu nữa.

Hóa ra 8 đồng xu kia chính là 8 vị Thần đã âm thầm bảo vệ cậu bé. Vì thế người ta gọi tiền lì xì là “Tiền may mắn trong Năm Mới.”



Nguồn: Truyện cổ tích Tổng hợp.

Con chim khách mầu nhiệm

Đang cập nhật tác giả
Truyện cổ Andersen

Con chim khách mầu nhiệm - Truyện cổ Andersen

Hai anh em bỏ nhà đi vì bị người đàn ông kia ăn mất con chim khách mầu nhiệm, nhờ vậy mà người anh được thần thiện mang đi, còn người em thì được thần ác mang đi. Sau khi trải qua nơi trăm sông ngàn gió chống chèo với số mệnh thì hai anh em đã trở thành Tề Vương và Sở Vương vua của hai nước......


Vào một ngày xa xưa, có hai anh em con một nhà quan nọ một hôm đi chơi thấy có một nhà đạo sĩ ngồi bên vệ đường. Trước mặt đạo sĩ có đặt một cái lồng, trong có một con chim khách. Hai anh em sán lại xem và hỏi:

– Chim gì mà trông chẳng đẹp. Nó có hót được không?

– Chim này không phải để nghe hót đâu – đạo sĩ trả lời.

– Thế dùng để làm gì?

– Đây là một con chim khách mầu nhiệm. Ai ăn được thịt nó sẽ trở thành bậc vương giả.

– Có bán không?

– Chỉ bán cho người nào mang lại đây bốn ngàn quan tiền. Đưa về nuôi đúng ba tháng mười ngày, sau đó mới làm thịt. Chỉ cần ăn một miếng thịt chim này tự khắc có ngày phú quý sẽ đến, đứng trùm lên thiên hạ.

– Có chắc thế không?

– Đã mua thì đừng ngờ. Đã ngờ thì đừng mua. Nhưng hãy nhớ, không phải bất kỳ ai có tiền là mua được chim, cũng không phải bất kỳ ai mua được chim là ăn được thịt. Phải có số, lại phải có tài.

Tin tưởng ở lời nói của nhà đạo sĩ, hai anh em liền chạy về nhà lấy trộm của mẹ mình đủ số tiền mang tới cho đạo sĩ để được làm chủ con chim quý.

Trở về, hai anh em giao chim cho ba người thị tỳ, bắt mỗi người phải nhận một việc: người thứ nhất cho chim ăn, người thứ hai tắm rửa, dọn lồng cho chim, còn người thứ ba trông nom săn sóc chim. Hai người chủ còn dặn:

– Tính mệnh cả ba ngươi gắn liền với con chim đó. Ta hứa sẽ cho các người mỗi người một ngàn quan nếu nuôi chim và giữ chim được tốt. Nhưng nếu để chim chết, hoặc bay mất, nhất định sẽ trị tội không tha!

Dặn đoạn, hai anh em trở lại ngôi trường cách xa một ngày đường, tiếp tục học tập.

Hồi đó, ở một nước ngoài có một người học được phép bấm độn rất tài tình. Ở đâu mất cái gì, hắn cũng có thể dùng phép lạ tìm ra được.

Nhờ có phép lạ, hắn biết rằng ở nước Nam có một con chim khách mầu nhiệm: ai ăn thịt nó sẽ được làm vua. Thấy vậy, hắn bèn bán tất cả gia tài điền sản đóng một chiếc tàu quyết sang tận nơi để tìm bằng được.

Sau những ngày lần mò dò hỏi, hắn đã tìm đến đúng nhà có con chim khách. Nhà rất kín cổng cao tường lại có nhiều đầy tớ canh gác, không dễ gì vào lọt. Nhưng khi biết chủ nhân ngôi nhà chỉ là một người đàn bà góa, hai đứa con trai đều đi học vắng, hầu hạ bên mình chỉ có ba cô gái trẻ, thì hắn rất mừng, quyết lập kế để lọt vào cho được. Hắn nhờ mối giới thiệu mình là khách buôn nước ngoài bán rất nhiều hàng nữ trang và lụa là với giá rẻ chưa từng có. Quả nhiên, mưu sâu đã đạt, khi gặp chủ nhân, hắn đưa tặng một chiếc nhẫn ngọc để làm quen. Chỉ một thời gian đi lại, dần dần hắn đã bắt nhân tình được với người đàn bà này. Nhưng khi hỏi dò đến con chim khách, hắn mới biết rằng chim được bảo vệ hết sức cẩn mật, do ba người thị tỳ chia nhau đêm ngày canh giữ.

Túng thế, người khách buôn lại phải giờ một thủ đoạn khác. Một hôm, hắn làm bộ sửa soạn cho tàu về nước. Người đàn bà góa ăn phải bả tình, hết lời dỗ dành để cầu mong hắn ở lại với mình. Hắn liền ngỏ ý sẽ ở lại suốt đời, nếu được ăn thịt con chim khách nuôi trong nhà này.

– Tưởng như thế nào chứ việc ấy thì có gì là khó khăn.

Đáp đoạn, người đàn bà bèn ra lệnh cho mấy người thị tỳ phải đưa nộp con chim khách.

Nhưng cả ba người nhất định không chịu. Họ trả lời: – “Thưa bà, chúng con không thể trái lệnh của hai công tử đã căn dặn trước khi lên đường”.

Để buộc mấy người thị tỳ phải tuân lời mình, người đàn bà nọ bèn hành hạ họ một cách tàn khốc. Cuối cùng họ không thể kiên gan được nữa.

Lại nói chuyện một ngày nọ hai anh em đang ngồi làm bài thì tự nhiên ruồi ở đâu kéo tới vây kín lấy đầu ngọn bút không cho nhúng vào mực. Nghĩ là ở nhà có chuyện chẳng lành xảy ra, hai anh em bèn xin phép thầy về thăm nhà.

Khi họ vừa bước vào cửa thì ba người thị tỳ đã chạy tới dắt họ vào buồng kín rồi quỳ xuống, kể hết những chuyện xảy ra ở nhà cho họ nghe: nào là người lái buôn nước ngoài đi lại không chính đáng với phu nhân, nào là họ bị đánh đập như thế nào chỉ vì không chịu nộp con chim quý, v.v…

Hai anh em hỏi:

– Thế chim hiện giờ ở đâu?

– Đã giết thịt còn kho trên bếp. Chốc nữa ông ấy sẽ đến ăn.

Hai anh em bèn vào ngay nhà bếp ngồi chén kỳ hết thịt con chim khách của mình. Ăn xong, họ lấy trộm tiền mẹ, thưởng cho ba người thị tỳ như lời đã hứa, và dặn họ hãy trốn mau đừng để mẹ mình bắt được. Rồi đó, hai anh em cũng bỏ nhà ra đi. Khi trèo lên một ngọn đèo thì trời vừa tối, hai người ngồi lại nghỉ sức, rồi vì mệt quá nên ngủ quên trên bãi cỏ.

Đang ngủ ngon giấc thì bỗng nhiên trên không trung có hai vị thần bay qua chốn này. Nhìn thấy hai chàng trẻ tuổi nằm giữa cánh rừng hoang, một vị vốn là thần Thiện nói:

– Này này, có hai gã xinh trai, lại có tướng làm vua sao mà lại nằm ở đây không sợ thú dữ ăn thịt? Chúng ta hãy mang họ đến kinh thành giúp cho họ sớm lên ngôi báu.

Nhưng vị kia vốn là thần ác, đáp:

– Không nên! Không nên! Hãy đưa chúng nó đến những nơi trăm sông ngàn gió để xem chúng nó chống chèo với số mệnh ra sao đã mới được.

Hai vị thần tranh cãi nhau mãi không ai chịu ai. Mãi đến gần sáng một vị cắp người anh đi sang nước Tề, một vị cắp người em đi sang nước Sở, thả xuống vào lúc mặt trời chưa mọc.

Lại nói chuyện người anh được thần Thiện thả vào nhà một người dân nghèo. Gia đình ấy hàng ngày đi làm thuê, bữa hôm không biết có bữa mai. Thấy người con trai mặt mũi sáng sủa lại chữ tốt văn hay, người chủ nhà coi như trời đưa đến cho mình một đứa con, nên tuy nhà thiếu ăn, ông cũng không nỡ đuổi. Chàng trẻ tuổi cũng lao vào làm bất cứ công việc gì để sống. Vùng này vừa bị mất mùa trong mấy năm liền, miếng ăn kiếm rất chật vật. Chàng trẻ tuổi hết làm thuê, đến kiếm củi, đào củ mài… quần quật suốt ngày vẫn không đủ bỏ miệng. Nạn đói ngày một dữ dội, người chết đói đầy đường đầy chợ. Trong một vài tháng đã xảy ra những vụ cướp thóc. Người chủ nhà đi theo đám đông. Chàng trẻ tuổi cũng hăng hái đi đầu. Thấy anh có tài, người ta tôn thủ lĩnh đại vương. Triều đình nghe tin dân đói nổi loạn, vội điều quân tới đánh.

Máu chảy khắp nơi. Nhưng bên phía dân đói cũng tập hợp thành những đội quân do anh chỉ huy. Quân của anh ngày một đông: từ hàng ngàn chẳng mấy chốc lên hàng chục vạn. Quân triều đình kéo tới lớp nào bị đánh tan tành lớp ấy. Quân của anh kéo về kinh không một ai dám chống lại. Cuối cùng trong một trận kịch chiến, bọn vua quan nước Tề đều bị tiêu diệt. Cõi bờ nước Tề đều giao lại cho nghĩa binh. Người ta tôn anh lên ngai vàng, gọi là Tề vương.

Người em được thần ác thả vào một cái thành. Hồi này ở nước Sở đang bị nạn mãng xà. Mãng xà vốn thích ăn thịt người. Ngày nào nó cũng phải thịt một mạng người mới đủ no. Từ trong hang đá, cứ chừng đúng ngọ thì nó bò ra đi tìm mồi. Xong bữa tiệc, nó lại trở về hang nằm nghỉ. Vì vậy, cứ vào khoảng nửa buổi, mọi người thi nhau chạy đi tìm nơi ẩn náu. Nhưng mãng xà cũng rất tinh khôn, không bao giờ chịu nhịn đói. Suốt mấy năm trời, nó đã ăn hết không biết bao nhiêu mạng người. Nhà vua vô cùng lo lắng, hứa gả công chúa cho người nào có thể trừ được con quái vật.

Chàng trẻ tuổi rơi xuống đúng vào lúc mãng xà tìm đến kiếm ăn ở cái thành này. Anh đang đi dạo chơi các phố, bỗng chốc thấy mọi người đều biến đi đâu mất cả. Đang lúc ngạc nhiên thì mãng xà đã ở đâu xông lại. Thấy thế nguy, anh tuốt gươm đánh trả. Trận đánh diễn ra rất lâu, mấy lần anh đâm trúng vào đầu con vật. Một mũi gươm bị gãy giắt vào trong đó. Nhưng tuy bị thương, mãng xà vẫn còn rất khỏe. Nó quần anh mệt nhoài. Cuối cùng, anh cũng chém được con quái vật, nhưng vì mệt quá nên lăn ra nằm ngất bên vệ đường.

Khi cơn nguy hiểm đã qua, mọi người lục tục ra khỏi chỗ nấp. Một viên quan nhỏ phi ngựa đến được chỗ xác mãng xà trước tiên, liền chém lấy cái đầu đưa lên nộp vua, tự xưng mình là người giết được quái vật.

Vua y ước gả công chúa cho hắn. Lễ cưới tổ chức rất linh đình. Nhưng giữa lúc mọi người đang tiệc tùng thì chàng trẻ tuổi bỗng xuât hiện ở cửa thành. Anh xin vào gặp vua để đòi lại mũi gươm gãy. Bon thị vệ đưa đầu mãng xà ra, quả tìm được ngay. Thấy chứng cớ sờ sờ, vua sai bắt viên quan bỏ ngục và phong cho chàng trẻ tuổi chức phò mã.

Sau đó ít lâu vua chết không có con nối. Phò mã được mọi người tôn làm vua gọi là Sở vương.

Trong một cuộc hội kiến, Tề vương và Sở vương gặp nhau ở biên giới hai nước. Hai anh em nhận ra nhau ngay, và từ đây hai nước giữ hòa hiếu lâu dài. Nhân dân nước Tề và nước Sở được hưởng thái bình thịnh trị chưa từng có

Sự tích quả bí ngô mặt cười Halloween

Đang cập nhật tác giả
Truyện cổ Andersen

Sự tích quả bí ngô mặt cười Halloween - Truyện cổ Andersen


Tên Jack Hà Tiện vì tính láu cá tinh ranh ức hiếp con quỷ nên khi hắn chết lên thiên đường bị từ chối nhưng xuống địa ngục cũng bị từ chối nên đã trở thành một hồn ma vất vưởng. Mỗi năm đến halloween người ta khoét quả bí ngô theo gương mặt của người láu cá và đặt ở bệ cửa ra vào để xua những hồn ma vất vưởng...


Câu chuyện về anh chàng Jack Hà Tiện lưu truyền hết đời này qua đời khác tại xứ Ireland này. Câu chuyện kể về một anh chàng Jack đã mời quỷ đi uống rượu. Nhưng bản chất là một kẻ hà tiện, Jack không muốn trả tiền cho cuộc nhậu này và gã bắt đầu dụ dỗ con quỷ tự hóa thành đồng tiền. Con quỷ nhanh chóng mủi lòng và làm theo.

Ngay sau khi biến hình xong, Jack nhanh chóng cầm đồng tiền cho vào túi áo có sẵn thánh giá bên trong và khiến cho con quỷ không thể nào trở lại được nguyên hình được nữa. Sau đó, Jack bắt đầu ra điều kiện với con quỷ là không được quấy nhiễu gã trong 1 năm và nếu Jack chết, quỷ không được lấy linh hồn của mình. Không còn cách nào khác, con quỷ buộc phải tuân theo.

1 năm thấm thoát thoi đưa, Jack lại tiếp tục lừa quỷ trèo lên cây hái quả. Lúc quỷ trèo lên cũng là lúc Jack khắc ngay một thánh giá vào thân cây và làm quỷ không thể leo xuống được vì quá sợ hãi. Lần này, Jack lại ra điều kiện và bắt quỷ phải hứa là không quấy nhiễu mình trong 10 năm. Biết không thể làm được gì, con quỷ đành cắn răng làm theo.

Chẳng bao lâu sau, Jack Hà Tiện qua đời nhưng khi linh hồn của Jack bước chân đến thiên đường thì không được Thượng Đế đồng ý. Bởi gã là một kẻ tinh ranh, láu cá, chính điều này làm Thượng Đế lo sợ rằng hắn sẽ phá hỏng quy tắc nơi đây. Buồn chán, Jack đi xuống địa ngục, nhưng tại đây con quỷ bị Jack lừa năm xưa cũng không muốn gã ở đây.



Jack bỏ hòn than đỏ quỷ đưa vào trong củ cải rỗng ruột

Trót hứa không lấy linh hồn của Jack, con quỷ đành cho Jack một cục than cháy để dò đường trong bóng tối và đuổi gã đi. Cầm cục than cháy đỏ, Jack bỏ vào trong một chiếc củ cải và cứ thế lang thang khắp cõi dương trần. Từ đó, người Ireland gọi Jack Hà Tiện là Jack of the Latern hay còn gọi là Jack lồng đèn và cuối cùng là biến thành Jack-O’Lantern.

Jack Hà Tiện cầu bất cầu bơ hết năm nay qua năm khác không chốn nương tựa

Cứ mỗi khi lễ hội halloween đến là người Ireland khoét ruột củ cải tròn, củ khoai tây theo gương mặt của người láu cá và đặt ở gần bệ cửa sổ ra vào để xua đi những hồn ma vất vưởng như Jack Hà Tiện. Sau đó, phong tục này được du nhập vào Hoa Kỳ, từ củ cải, khoai tây, mọi người tại đây bắt đầu chuyển dần sang quả bí ngô – một loại đặc sản với thân hình đủ lớn để mọi người có thể tỉa tót khuôn mặt của chàng Jack Hà Tiện năm xưa.

Sự tích hoa đuôi cáo (hoa dền)

Đang cập nhật tác giả
Truyện cổ Andersen

Sự tích hoa đuôi cáo (hoa dền) - Truyện cổ Andersen

Đám cưới của chuột đuôi dài và chuột đuôi cục bị mẹ con nhà cáo hóng tin được mà treo đuôi trên cây để canh me. Đám cưới đang diễn ra thì nhà chuột bị mẹ con cáo ám hại. Cuối cùng chuột đuôi cục bèn cột chặt những cái đuôi cáo vào cây tầm ma. Người ta thấy hoa rực rỡ nên đào về nhà trồng, và loài hoa đó được gọi là Hoa đuôi cáo...


Gia đình nhà chuột cống đang có một niềm vui lớn, song bên cạnh đó vẫn canh cánh một mối lo âu. Vui vì cô út của họ nhà chuột đuôi cộc bằng lòng làm vợ đứa con trai cả họ nhà chuột đuôi dài. Còn nỗi lo thì bắt đầu từ việc vị bô lão chuột đưa ra một điều kiện mà nếu thiếu nó thì chuột đuôi cộc không sao lấy được chồng.
Điều kiện thật khắc nghiệt: trong ngày cưới, chuột đuôi dài phải trang hoàng trên các bụi cây quanh nơi ở của mình bằng những cái đuôi mèo! Làm như thế chẳng những đẹp mắt mà còn chứng tỏ được lòng dũng cảm của chú rể, rằng ngay trong giờ phút bất lợi nhất chú vẫn bảo vệ được gia đình mình thoát khỏi kẻ thù độc ác nhất của tất cả các loài chuột, đó là Mèo đen khét tiếng.
Gia đình nhà chuột cống sống ở dưới kênh đào, trong các bụi cây gai cách xa nơi ở của con người. Không biết đã bao nhiêu buổi chiều, họ nhà chuột cống cứ tranh cãi nhau mãi về loài mèo kia. Tin đồn về sự ác độc của chúng truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác, nhưng chưa đứa nào được tận mắt trông thấy một con mèo bằng xương, bằng thịt, thậm chí cả đến con mèo cao tuổi nhất cũng chưa thực mục sở thị.
Vậy mà trước ngày hôn lễ phải tìm bằng được mấy con mèo, phải kiếm bằng được mấy cái đuôi mèo! Lũ chuột cống nghèo hèn không hiểu rằng chúng bị chuột nhà vẫn cho tổ chức đám cưới và nghĩ : chú rể chuột đuôi dài sẽ bị mèo bắt và sẽ không có đám cưới nào hết.
Nhưng chuột đuôi dài yêu chuột đuôi cục đến nỗi nó đã chuẩn bị sẵn một thanh gươm và chuẩn bị lên đường đi tìm mèo để chặt lấy cái đuôi của nó. Chỉ có điều là gươm ấy làm bằng lá cây vải gai. Chuột đuôi dài chưa bao giờ trông thấy mèo mà vẫn mơ ước dùng kiếm ấy để chặt đuôi mèo! Thế là chuột hăm hở đi lùng mèo, mặc cho mẹ khóc cạn nước mắt vì lo sợ.
Mẹ chuột bò ra khỏi bụi cây, nghếch mõm lên suy nghĩ. Nó suy nghĩ căng thẳng đến nỗi cái mõm của nó cứ giật giật và mấy cái râu thì rung rung. Nghĩ mãi rồi thì cũng phải ra một điều gì đó. Nó quyết định đến gặp chị cáo, một con vật tinh khôn có bộ lông đuôi sặc sỡ, mời nó đến dự đám cưới và xin nó lấy cái đuôi của mình làm quà tặng cô dâu, chú rể, treo trên bụi cây gai.
Được tin về đám cưới chuột, cáo ta mừng rơn, cứ liếm lưỡi liên tục. Cáo không thích chuột đồng vì thịt không ngon; còn thịt chuột nhà thì khỏi phải nói!
Cáo hỏi thăm chuột đồng nhà cô dâu có đông không và chúng không thể không đem lũ con đi theo, vì lũ con này cũng phải treo đuôi trên các bụi cây.
Nói là làm. Cáo mẹ và lũ con đến đám cưới rất đúng giờ và treo đuôi của mình lên các cành cây, rồi nấp vào các chỗ kín, sau các tảng đá, mô đất, đồng thời không quên phòng ngừa thợ săn.
Khi hoàng hôn buông xuống, đám cỏ trên bãi ven kênh đào nghiêng ngả, chính là lúc họ hàng nhà cô dâu kéo đến đông đúc.
Cả nhà chuột cống ùa ra đón khách, hỏi han bà con họ hàng xem họ có hài lòng về cách trang trí ngày cưới không.
– Tuyệt quá! – Mẹ chuột đuôi cục nói. – Nhưng tôi chưa hề thấy loài mèo nào có những cái đuôi như thế kia.
– Đây là đuôi của loài mèo rừng, – mẹ chuột đuôi dài giải thích. – Mèo rừng ấy mà. Chúng ác độc hơn mèo nhà rất nhiều. Sáng kiến này chỉ có cậu ấm nhà tôi mới làm được thôi.
– Phải tay tôi, tôi cũng sẽ không tha, – người anh trai của chuột đuôi cục thốt lên. Trước khi đến đám cưới, anh ta đã tráng miệng chút xíu rồi và bây giờ thì đang đứng ở dưới cái nút thùng rượu.
Anh ta vừa dứt lời thì từ trong một tảng đá lớn, rồi từ dưới bờ kênh cả một đàn cáo nhảy ra, con thì tấn công kẻ vừa ba hoa, con thì nhảy bổ vào chuột mẹ, rồi lần lượt cha, anh và họ hàng nhà chuột đều bị lâm nạn. Chuột đuôi dài chỉ kịp lôi chuột đuôi cục vào trong một bụi cây tầm ma. Chuột đuôi cục sợ hãi đến nỗi không kịp nhận ra ai trong số họ hàng nhà mình đã bị lũ cáo ám hại.
Khi chuột đuôi dàikhám phá ra điều bí mật của vợ mình thì chuột đuôi cục bèn cột chặt những cái đuôi cáo vào cành tầm ma, nơi mà chúng để lại đuôi ở đó. Một hôm, có người qua đường trông thấy cây tầm ma rực rỡ, bèn đào lên, đem về trồng ở vườn nhà mình.
“Hoa đuôi cáo”, đó chính là tên gọi của loài hoa này. Các nhà bác học về nghề làm vườn thì gọi chúng bằng một cái tên khác, không hề liên quan gì đến một cái đuôi nào cả – “Maranthus” Tiếng La Tinh có nghĩa là Hoa Dền.

Nguồn: Sưu tầm

Sự tích cái bướu của Lạc đà

Đang cập nhật tác giả
Truyện cổ Andersen

Sự tích cái bướu của Lạc đà - Truyện cổ Andersen


Hai anh em lạc đà sống chung vui với các loài động vật hoang dã. Bỗng một hôm lạc đà em lăn đùng ra bệnh, chẳng lâu sau thì chết. Lạc đà vì đau buồn mà trên lưng nổi lên một cục u to. Đó là cái bướu trách nhiệm, hình ảnh của lo toan , vất vả,...


Thời xưa lạc đà không có bướu. Lưng nó phẳng ngang, hơi cong.
Nó được xếp cùng chủng với ngựa lừa, nhưng không phải là loài chở nặng, suốt ngày long nhong tự do trên sa mạc. Sao trên trời cát dưới biển hằng hà sa số là tài sản thiên nhiên dành cho nó. Nó chẳng phải làm gì, chỉ rong chơi đó đây, từ ngày này qua tháng nọ, cuộc sống lãng du thênh thang vui sướng vô tư nhất trần đời. Trong  muôn loài động vật hoang dã thời bấy giờ, khối con mơ ước được du ngoạn mặc sức như nó mà không được. Nó nghênh ngang dạo chơi khắp vùng sa mạc, không có gì ngăn bước nó. Thật không còn gì tự do bằng.
Thế nhưng trên đời luôn có oái oăm, trái khoáy. Có những người được sống đời  tư do mà không hề nhận ra hạnh phúc mình đang có không dễ ai có được.
Bấy giờ có hai anh em lạc đà kia.

Lạc đà em sinh sau, vừa hiền vừa dại, quanh quẩn bên vú mẹ, gặp kẻ nào mon men đến gần là sẵn sàng kết bạn chơi đùa, thích thú bảo nhau rống lên những âm thanh vang vọng rồi rúc rích cười, thế là vui. Có xảy ra vậy, ấy là  chuyện một thời, ở mãi tận một miền hoang dã xa, nơi  khu rừng già, các loài thú hoang đưa nhau đi tìm đất lạ, hòng thay đổi nếp sinh hoạt  quen thuộc, chán ngắt quẩn quanh bên gốc dại cây già. Chúng rất hiền lành. Bấy giờ voi, cọp, hươu, trăn, tinh tinh quấn quýt ca vui cả với thằn lằn, kanguru, cả với chị chim trĩ bé nhỏ nữa thì đủ biết là hòa bình thế nào.
Những loài hoang dã  ham vui này rủ nhau đi cách khu rừng một quãng quá xa, đến nỗi  sau khi  hình ảnh  rừng già ở lại sau lưng dần dần mất hút rồi ,chúng mới nhận ra trước  mặt chúng là một vùng bao la vô tận, trải dài toàn là cát vàng óng ánh. Ấy chính là một sa mạc nóng bỏng, quê hương của lạc đà.
Lạc đà em nhanh chóng tiếp đón bạn bè từ bốn phương tới. Nó chơi với các con thú lạ kia thân mật  như được sinh ra từ trong một bầy.
Một thời gian rất dài, cuộc vui giữa các loài động vật hoang dã  đó lưu lại biết bao kỷ niệm êm đềm trong ký ức mỗi đứa. Bỗng một hôm, lạc đà em lăn đùng ra bệnh. Chẳng bao lâu nó chết.

Em chết, lạc đà anh mang nỗi buồn vô tận. Ngay sau đó, trên lưng lạc đà anh nổi lên một cục u to. Đó là cái bướu trách nhiệm, hình ảnh của lo toan, vất vả, nhọc nhằn, cô quạnh…
Đám tang lạc đà em được đoàn động vật hoang dã thương tiếc xếp hàng, giương cờ tang đưa chân nó đến nơi an nghỉ cuối cùng cách thân tình trìu mến.
Kanguru, Tinh Tinh, Thằn Lằn, Trăn, chim Trĩ bảo nhau  trở về chốn xưa, nơi có cây cối, rừng rậm lá hoa, mỗi đứa sẽ tự kiếm cho được một bông hoa nhỏ, mang về cùng nhau đặt trên mộ lạc đà em cho chí tình bằng hữu.
Ấy là chung một niềm Nhớ Bạn.

Chiếc hòm bay

Đang cập nhật tác giả
Truyện cổ Andersen

Chiếc hòm bay - Truyện cổ Andersen

Lão lái buôn giàu có chết để lại tài sản cho con trai. Nhưng vì ăn chơi nên không còn tài sản gì nữa chàng ta được một người tốt bụng tặng cho một chiếc hòm biết bay. Nhờ chiếc hòm ấy mà chàng đã được gặp công chúa và định ngày kết hôn. Tiếc thay cuối cùng chiếc hòm bị cháy rụi chàng không thể bay lên để gặp cô công chúa nữa...


Ngày xưa, có một lão lái buôn giàu đến nỗi có thể lấy bạc ra trát kín cả phố lão đang ở và có lẽ còn lát thêm được một cái ngõ nữa. Nhưng lão ta chẳng dại gì mà chơi ngông thế, lão có lắm cách dùng tiền có ích hơn nhiều. Chẳng bao giờ lão bỏ ra một xu nếu không biết chắc là sẽ thu về được một hào.
Nhưng… bỗng một hôm lão chết.
Bao nhiêu tiền vàng đều về tay người con trai. Anh này chỉ ăn chơi, đêm nào cũng miệt mài trong những cuộc khiêu vũ hóa trang, lấy bạc giấy làm diều và dùng tiền vàng ném thia lia thay mảnh sành. Ăn chơi như thế, nhất định tiền bạc cứ phải theo nhau mà chuồn. Quả nhiên tiền biến đi rất nhanh, đến nỗi một hôm, anh ta chỉ còn trần bốn silinh, một đồi giày băng túp và một cái áo mặc trong nhà. Không dám đi cùng với anh ngoài phố, bạn hữu bỏ rơi anh. Nhưng có một người tốt bụng gửi cho anh một cái hòm cũ và bảo:
– Cho cậu cái hòm này mà đựng tài sản!
– Thế thì còn gì bằng!
Nhưng chẳng còn gì mà đựng và cũng chẳng còn giường nữa, anh ta nằm quách ngay vào hòm. Cái hòm ấy cũng kì lạ. Hễ cứ đè lên cái khóa thì nó bắt đầu bay. Chàng trai trẻ của chúng ta vừa đè lên cái khóa, thế là cái hòm chui ra khỏi ống khói, rồi bay vút lên cao, lên trên cả mây, bay xa, xa mãi. Đáy hòm kêu răng rắc làm cho anh chàng ngồi trong sợ chết khiếp. Hãy cứ tưởng tượng xem, nó mà tung mất đáy thì cứ là ngã lộn nhào xuống chết toi. Nhưng ơn trời phù hộ, cuối cùng anh ta hạ xuống xứ Thổ Nhĩ Kỳ. Anh bạn của chúng ta kéo cái hòm vào khu rừng. Ăn mặc như anh lúc bấy giờ không làm cho người ta để ý vì người Thổ Nhĩ Kỳ ra đường ai cũng mặc áo ở nhà và đi giày băng túp. Gặp một chị vú bế một đứa bé anh bảo:
– Cho tôi hỏi thăm một tí chị vú ơi! Cái lâu đài có cửa sổ cao kia, ở ngay gần thành phố, là lâu đài của ai thế?
Chị vú đáp:
– Đấy là chỗ ở của công chúa đấy…Người ta đoán là số nàng sẽ gặp phải người chồng làm cho nàng rất khổ sở. Vì thế cho nên nếu không có mặt vua và hoàng hậu thì không ai được lại gần nàng cả.
Anh chàng con trai lão lái buôn cám ơn rồi trở lại khu rừng, chui vào hòm, bay lên toà lâu đài và đến gõ cửa buồng công chúa.
Nàng đang nằm ngủ trên một chiếc xô pha. Anh chàng con trai lão lái buôn trông thấy nàng đẹp quá chừng, không cầm lòng được, bèn ôm hôn nàng. Công chúa tỉnh dậy thất kinh, nhưng anh chàng bảo nàng rằng mình là thần hoàng nước Thổ Nhĩ Kỳ vừa mới bay đến đây gặp nàng nên nàng lại lấy thế làm hân hạnh.
Họ ngồi bên nhau, anh chàng bắt đầu tán tụng đôi mắt tuyệt diệu của nàng. Anh bảo đó là chiếc hố sâu thẳm rất đẹp, trong đó ý nghĩ bay lượn như những nàng tiên cá. Rồi anh tán đến trán nàng. Đó là một đỉnh núi tuyết sáng lóng lánh. Anh còn nói đến cả chuyện cõng những đứa trẻ ngoan ngoãn vào đầu thai trong các gia đình.
Những lời tán tỉnh hay tuyệt ấy làm cho công chúa mê tít. Anh chàng vội hỏi ngay công chúa làm vợ. Nàng ưng thuận và bảo:
– Nhưng đến thứ bảy chàng phải quay lại đây. Hôm ấy cả vua và hoàng hậu đến đây ngự trà với thiếp. Hai thân sẽ rất hài lòng thấy thiếp được thừa tiếp thần hoàng nước Thổ Nhĩ Kỳ. Vậy chàng hãy chuẩn bị kể cho vua cha và hoàng hậu nghe một câu chuyện thật hay vì hai thân thích nghe kể chuyện lắm. Hoàng hậu thích nghe những chuyện nói về những nhân vật thật thà và đạo đức. Vua cha thì thích chuyện vui và khôi hài.
Anh chàng đáp:
– Lễ vật dẫn cưới của tôi chỉ là kể chuyện thôi đấy!
Họ chia tay nhau, nhưng trước đó, công chúa tặng chàng một thanh kiếm nạm tiền vàng. Tiền vàng ấy cũng sẽ giúp ích cho anh chàng.
Anh ta bay đi mua một cái áo mới, rồi về khu rừng ngồi bịa ra một câu chuyện. Thứ bẩy đã phải kể rồi, mà có phải tự nhiên có chuyện mà kể đâu.
Dẫu sao đến thứ bay anh chàng cũng chuẩn bị xong.
Đức vua, hoàng hậu, tất cả triều đình hội họp đông đủ tại lâu đài công chúa để dùng trà. Anh con trai lão lái buôn được tiếp đón rất nồng nhiệt. Hoàng hậu hỏi:
– Chàng kể cho chúng ta nghe một câu chuyện nhé! Một câu chuyện có tính chất giáo dục tư tưởng thật sâu sắc ấy, được không?
Nhà vua thêm:
– Nhưng đồng thời lại khôi hài nữa kia.
– Xin sẵn lòng!- Anh chàng nói rồi bắt đầu kể.
“Ngày xưa có một bao diêm rất tự kiêu vì dòng dõi quý phái của nó. Cha những que diêm ấy là một cây tùng lớn, một cây cổ thụ to trong rừng. Thế mà những que diêm tội nghiệp phải ở trong bếp, cạnh một cái bật lửa và một cái nồi cũ kỹ, và chỉ có thể thuật lại tuổi trẻ vinh quang với họ được thôi.
Chúng nói: “Phải, chúng ta đã từng sống sung sướng trên những cành cây xanh tươi. Sáng nào, tối nào chúng ta cũng uống trà bằng những hạt sương lóng lánh như kim cương. Những hôm trời nắng, chúng ta tận hưởng ánh nắng suốt ngày, và có những con chim nhỏ đến để kể chuyện cho chúng ta nghe. Chúng ta là con nhà giàu, chúng ta biết có những cây chỉ mặc lá xanh trong mùa nực, còn chúng ta thì bận y phục xanh suốt cả mùa đông lẫn mùa hè.
Nhưng bỗng một hôm tiều phu kéo đến. Thế là đại cách mạng, và gia đình chúng ta tan đàn xẻ nghé. Cha chúng ta được dùng làm cột buồm chính trên một cái tàu thuỷ rất đẹp và, có thể vòng quanh thế giới được. Những cành khác đi nơi khác, còn số phận chúng ta là phải đem lửa đến cho thiên hạ, cho nên chúng ta mới bị đày ải vào một cái bếp như thế này, mặc dù chúng ta là con nhà quyền quý.”
Cái nồi bên cạnh bao diêm kể rằng:
– Tôi thì khác. Từ lúc sinh ra đời, tôi đã bị thiêu không biết bao nhiêu lần rồi! Ở đây chính tôi là vật chịu đựng giỏi nhất và được quý nhất nhà này. Tôi thích nhất là sau khi xuất hiện trên bàn ăn về lại được lau chùi sạch bóng và chuyện gẫu với bạn bè. Nếu không có cái thùng xách nước thỉnh thoảng được xuống sân, có thể nói là tôi chỉ sống quanh quẩn giữa bốn bức tường này mà thôi. Nguồn cung cấp tin tức độc nhất của tôi là cái thùng đựng thức ăn, nhưng nó luôn luôn nói xấu chính phủ, đến nỗi, hôm nọ, một cái vò cũ kỹ hoảng hốt rơi ngã xuống, tan làm mấy mảnh đấy. Tôi có thể nói rằng chị ấy chính là một người bất mãn.
– Chị ăn nói ba láp quá lắm! (Cậu bật lửa nói rồi lấy bánh xe bằng thép xoạt một cái vào viên đá làm bật ra một tia lửa) Nhưng liệu chúng ta có tìm được cái gì cho vui buổi tối hôm nay không nhỉ?
Lũ diêm reo lên:
– Đúng đấy, hãy tranh luận xem trong chúng ta ai là con nhà quý phái nhất!
Nồi gạt đi:
– Không, tôi không thích nói về cái bản thân mình. Chúng mình hãy tìm một vấn đề khác mà nói. Tôi bắt đầu nói trước nhé! Xin bắt đầu kể cho các bạn nghe một câu chuyện có thật. Chuyện có thật vẫn là chuyện hay nhất, nhưng dễ mấy khi đã được nghe. Vậy thì, trên bờ biển Ban Tích, giữa các cây dẻ gai, trong những cánh rừng nước Đan Mạch…
-Vào đề khá lắm!- Mấy cái đĩa lớn tiếng khen.
-Đấy là nơi tôi đã sống cuộc đời măng trẻ trong một ngôi nhà tĩnh mịch. Đồ đạc bóng loáng, sàn gỗsạch tinh, cứ nửa tháng người ta lại thay rèm cửa một lần.
Chổi khen:
-Hay quá là hay! Mới thoáng nghe đã biết ngay là giọng đàn bà kể chuyện, vì phụ nữ bao giờ cũng chú ý đến sự sạch sẽ.
-Đúng đấy! – Thùng xách nước nói rồi thích chí ngả nghiêng một cái làm nước sánh ra sàn gỗ mất một ít.
Nồi kể tiếp chuyện đời mình, phần cuối cùng cũng hay như đoạn đầu.
Mấy cái đĩa thích quá, cứ nhấp nha nhấp nhổm. Chổi lấy mấy nhánh rau mùi trong sọt rác quăng vào cổ nồi để khen thưởng nó. Biết rằng làm như thế kẻ khác sẽ ghen tị, không bằng lòng, nhưng chổi nghĩ thầm: Hôm nay mình thưởng nó, ắt là đến mai nó lại phải khen thưởng mình chứ sao!
Kẹp than rủ rê: “Bây giờ nhẩy với nhau đi nào!” Nói rồi nó ra sức dang đôi tay lên trời thật.
Cái nệm trong bếp nhìn thấy thế cười tưởng đến nứt cả bụng.
Kẹp than lại hỏi: “Đã đáng thưởng cho ta một vòng hoa như cái nồi chưa?”
Nó được thưởng thật.
Lũ diêm nghĩ bụng: “Dẫu sao cũng chỉ là đồ hạ lưu cả.”
Đến lượt cái ấm trà hát, nhưng nó hơi bị cảm lạnh. Lúc nào thật nóng, nó mới hát được. Thật ra đấy chỉ là lý do bịa thôi. Nó còn để dành đến lúc được đặt lên bàn, trước mặt các ông bà chủ, nó mới hát.
Trên cửa sổ, có một cái bút lông ngỗng, chị sen vẫn dùng để viết. Bút ấy chẳng có gì đáng được để ý ngoài cái điều chấm mực nhiều quá. Ấy thế mà chủ chẳng mảy may khó chịu. Bút nói:
– Nếu cái ấm không muốn hát thì thôi! Trong lồng ngoài kia chúng ta còn có một con hoạ mi ngoan ngoãn đáng yêu, chắc cũng không lấy gì làm tài giỏi cho lắm, nhưng tối nay, các bạn chẳng nên khó tính nhé!
Cái ấm đun nước vừa là nhạc sĩ vừa cùng họ với ấm pha trà, thêm vào:
-Tôi thấy để cho con chim lạ mặt ấy hót cho chúng ta nghe thì thật chẳng hợp lý tí nào! Tinh thần tự lực ở đâu hả? Hỏi cái thúng xem có đúng không nào?
Thúng bèn lên tiếng:
-Tôi không bằng lòng, rất không bằng lòng về các bạn. Suốt tối nay, cứ như thế, có ổn không? Đi mà dọn dẹp nhà cửa, ai làm việc nấy có hơn không? Tôi sẽ chủ trì trò chơi này. Chơi thế còn thú vị và có ích đôi chút.
Tất cả đồng thanh hô lớn: “Đúng đấy!”
Nhưng ngay lúc ấy cửa bỗng mở, chị sen bước vào. Tất cả đều đứng sững tại chỗ, im bặt, nhưng trong bụng, ai cũng tiếc:
-Nghe mình thì có phải buổi tối rất vui không?
Chị sen lấy diêm nhóm bếp. Gớm! Chúng xòe cháy sáng ngời lên! Chúng nghĩ thầm:
-Giờ thì đứa nào cũng đều có thể thấy rằng chúng mình là cao quý nhất. Bọn mình toả ánh hào quang sáng ngời lên thế này kia mà!
Rồi chúng cứ thế mà chết thiêu đi.”
Hoàng hậu bảo:
– Câu chuyện hay lắm! Ta cứ tưởng như hoàn toàn sống trong căn bếp ấy, giữa lũ que diêm. Con sẽ được lấy công chúa.
Vua cũng phán:
-Chắc chắn thế nào ta cũng gả công chúa cho con.
Giờ thì vua và hoàng hậu gọi anh bằng con, anh sắp sửa trở thành người trong hoàng gia rồi.
Ngày cưới được ấn định và tối hôm trước hôn lễ cả thành phố sáng rực lên. Người ta đem tung bánh mứt, hoa quả cho nhân dân. Trẻ con chơi ngoài phố suốt đêm, vừa hoan hô vừa vỗ tay, thích quá đi mất!
Chàng con trai lão lái buôn nghĩ bụng:
– Mình cũng phải thi thố chút gì mới được chứ!
Anh ta tìm mua pháo nổ, pháo thăng thiên, có thứ pháo hoa nào đều mua tất, bỏ vào hòm rồi vừa bay trên trời vừa đốt.
Dân lành Thổ Nhĩ Kỳ thích quá, nhảy mãi lên, đến nỗi giày băng túp của họ đập lên đến tận mang tai. Chưa bao giờ họ được thấy hiện tượng kỳ lạ trên trời như thế. Họ không hơi đâu mà tìm hiểu đấy là cái gì, vì bấy giờ là lúc thần hoàng Thổ Nhĩ Kỳ sắp thành hôn với công chúa.
Chàng con trai lái buôn vừa đến khu rừng với cái hòm của mình, liền nghĩ rằng:
– Mình phải ra ngay thành phố xem kết quả ra sao mới được!
Đi đến đâu chàng cũng thấy bàn tán về sự việc vừa xảy ra. Anh hỏi, ai cũng tả các pháo hoa kỳ lạ ấy theo mắt nhìn riêng của mình, nhưng ai cũng nói chưa từng thấy gì thích bằng thế.
Người thì bảo:
-Tôi đã trông thấy thần hoàng nước Thổ Nhĩ Kỳ, người có đôi mắt sáng như sao và bộ râu giống như nước đang sủi bọt.
Kẻ thì nói:
-Người khoác một cái áo choàng bằng lửa. Trong những nếp áo có nấp những tiên đồng tuyệt đẹp!
Hôm ấy, anh chỉ nghe thấy người ta ca ngợi không tiếc lời. Hôm sau đã là ngày cưới rồi.
Anh trở về khu rừng để chui vào hòm. Nhưng tìm đâu cho thấy? Than ôi, nó đã cháy mất rồi. Một cái pháo hoa còn sót lại đã bắt lửa, và bây giờ cái hòm đã thành tro. Anh bạn của chúng ta không thể bay và trở lại gặp công chúa được nữa. Nàng đứng đợi…suốt cả ngày trên gác thượng, đợi đợi mãi…
Nhưng chàng thì vừa chu du thiên hạ vừa kể chuyện. Nhưng chuyện chàng kể sau này không được vui bằng câu chuyện những que diêm chàng đã kể cho vua, hoàng hậu và công chúa nghe.

Nguồn: Sưu tầm

Sự tích con sư tử

Đang cập nhật tác giả
Truyện cổ Andersen

Sự tích con sư tử - Truyện cổ Andersen

Một vị hoàng tử muốn củng cố đất nước nên đã liều mình đi học phép thuật. Sau khi học phép thuật vì sợ thú rừng nên chàng đã biến thành con sư tử, lúc đói quá nên đã bắt một con nai ăn. Vì đã giết con vật nên chàng không thể trở lại thành người mà cứ sống trong hình hài con sư tử.


Thuở xưa, có một hoàng tử mới mới lên ngôi hoàng đế. Ngay lập tức chàng muốn đi học phép thuật để củng cố đất nước. Chàng đi tìm một ông thầy bùa chú rất nổi tiếng về phép thuật để học.

Hoàng hậu rất buồn vì ý định của hoàng đế vì nàng sợ sự chia ly, vả lại trên đường đi có rất nhiều nguy hiểm, khó khăn. Nhưng chàng đã quyết và một ngày kia lên đường cùng với bốn người tuỳ tùng.

Đường đi rất khó khăn, vì phải qua những sa mạc rộng lớn và đi vào những vùng rừng sâu đầy thú dữ… nhưng vì họ quá khao khát phép thuật, quyền hành sau này, cho nên những khó khăn chẳng cản được họ.

Ba tháng cực khổ, đói và khát, hoàng đế và bạn hữu chàng đến chỗ của thầy tu. Vị thầy nầy cảm động vì sự dũng cảm của họ nên chấp nhận cho họ học nghề. Nhưng ông ra một điều kiện: họ phải hứa xử trí một cách đạo đức, không bao giờ giết sinh vật nào cả. Nếu tay họ chỉ một lần vấy máu thôi, thì tất cả phép thuật sẽ biến mất đi. Hoàng đế đồng ý.

Sau khi học những phép thuật, họ vui mừng, lên đường trở về cung điện. Nhưng đi một tháng sau, họ lạc trong một khu rừng dày đặc. Họ không nhận ra những đường xưa nữa, và thấy tất cả vật xung quanh họ đều lạ lùng. Lúc đó, hoàng hôn giăng bủa và đêm khuya bỗng nhiên ôm trùm cả phong cảnh rừng tối om. Những vòm lá ngàn cây che mịt mù cả trời đen thui, không cho thấy những ngôi sao nào để mà nhắm hướng. Xung quanh họ bắt đầu vang lên hàng trăm thứ tiếng của thú rừng.

Hoàng đế và các bạn hữu chàng bắt đầu sợ và bàn với nhau dùng phép thuật để biến thành một con thú vật rất mạnh bạo, to lớn, dữ tợn, có thể tự bảo vệ, và làm khiếp sợ những con thú khác. Vì thế, hoàng đế bắt đầu biến thành đầu một con vật, bờm tóc, như vương miện… Ông đại tướng làm theo ngay và biến thành thân người của con động vật ấy… bốn người tùy tùng kia thì biến thành bốn chân… còn lại ông thầy địa, do dự một lúc, rồi biến thành cái đuôi. Con vật ấy có dáng đi hùng dũng như một vị vua nên các con thú rất sợ và không tấn công nó.

Hoàng đế và mấy bạn bè ở như vậy suốt cả đêm dài. Nhưng lúc gần sáng, thì có một con nai non đi qua gần đó. Con sư tử rất đói vì cả ngày chưa ăn, bỗng chìa cánh tay ra, bắt con nai bằng vuốt nhọn, và hai tay giữ mạnh, cắn cổ nai và xé thịt ăn ngon lành…

Mõm nó còn đỏ máu lúc mặt trời dần dần thức dậy. Nó muốn biến lại thành người để tiếp tục đi về cung điện. Nhưng đột nhiên nó nhớ lại là nó đã dùng phép thuật để giết một con thú vật rồi. Lúc đó nó mới biết là nó sẽ không bao giờ trở thành người lại được nữa, và luôn luôn phải sống làm kiếp con sư tử…

Nguồn: Truyện cổ tích Tổng hợp.

BXH Truyện cổ Andersen